NHÌN "NHỮNG NGƯỜI HUNGARY ĐOẠT GIẢI NOBEL", NGHĨ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM Đó là trăn trở của nhiều học giả tham dự buổi toạ đàm do NXB Tri Thức vừa tổ chức tại Hà Nội nhân dịp xuất bản cuốn Những người Hungary đoạt giải Nobel (*).
 |
Cuốn sách cung cấp những thông tin đáng ngạc nhiên: nằm trên ngã tư đường giữa hai lục địa Á – Âu, với diện tích không lớn, dân số nay chỉ trên 10 triệu người, trong lịch sử thường xuyên phải đối đầu với các cuộc chinh phục, trong thế kỷ 20 đã hai lần thua trận nhưng người Hungary tự hào đã góp cho nhân loại 15 người đoạt giải Nobel trên tất cả các lĩnh vực được xét trao giải. Đó là chưa kể tới 11 người “lẽ ra được trao giải Nobel”, một giải Nobel khác “có cội nguồn Hungary”, một giải Nobel nữa “liên quan đến Hungary”. Tám người Hungary khác được trao giải Wolf – một giải thưởng đầy uy tín trong các lĩnh vực toán học, vật lý, hoá học, y học, nông nghiệp và nghệ thuật, thậm chí giải Wolf về toán học được coi như giải Nobel trong lĩnh vực này. Từ năm 1962 đến năm 2002, chín người Hungary nhập quốc tịch Mỹ được tặng huy chương Khoa học quốc gia – sự vinh danh khoa học cao nhất ở Mỹ. Hai mươi mốt nhà bác học Hungary được kết nạp là thành viên của Royal society (hiệp hội Khoa học Hoàng gia Anh) — viện hàn lâm khoa học hoạt động lâu đời nhất, không gián đoạn và là cơ quan khoa học có uy tín nhất trên thế giới. Từ hơn 350 năm qua, uy tín đó không hề suy giảm…
Đây là những thống kê gây kinh ngạc với nhiều người. Đến mức tờ Nature, một chuyên san khoa học hàng đầu thế giới, trong số 1.2001 đã đăng một bài với tiêu đề: Thế kỷ 20 được tạo nên tại Budapest.
Trong thế kỷ 20, những nhà khoa học người Hungary đã có nhiều đóng góp mang tầm thời đại. Họ đã thúc đẩy khoa học, văn minh kỹ thuật phát triển và những ảnh hưởng của họ tới tiến trình lịch sử của cả loài người là không nhỏ, đặc biệt là trên các lĩnh vực: giải phóng năng lượng nguyên tử, kỹ thuật hàng không, chinh phục vũ trụ, viễn thông và kỹ thuật tính toán.
Trong cuộc toạ đàm, lý giải cho hiện tượng này, dịch giả – TS Giáp Văn Chung – dẫn ra những yếu tố đã được nhiều người nghiên cứu và thừa nhận: những yếu tố địa văn hoá, vùng đất, con người và các “dòng” văn hoá đi qua đây. Những sự đối đầu với các nguy cơ, việc phải gánh chịu những tổn thất nặng nề buộc cả dân tộc Hungary và từng cá nhân phải gồng mình đối phó, từ đó tôi luyện bản lĩnh dẻo dai và năng động. Truyền thống khoa học lâu đời, sự bình đẳng về khoa học và giáo dục trong xã hội đã tạo điều kiện để phát lộ và không bỏ sót nhân tài. Một nền giáo dục có truyền thống cởi mở, đặt trên cơ sở khích lệ sự sáng tạo. Nền giáo dục này đã đạt đến mức hoàn thiện từ đầu thế kỷ 20 là bệ phóng cho nhiều nhà khoa học. Harsányi János, giải Nobel Kinh tế năm 1964, đã phát biểu: “Nếu nói chuyện với một kỹ sư hay một bác sĩ người Hungary, chớ ngạc nhiên vì họ quan tâm đến âm nhạc hay triết học. Ở Hoa Kỳ không có chuyện đó. Ở Hungary trình độ văn hoá phổ quát cao hơn nhiều”.
Trong những nguyên nhân được nêu, ưu điểm của hệ thống giáo dục mà những nhà khoa học Hungary được hưởng từ thuở thiếu thời trên quê hương đã được nhiều chuyên gia nhấn mạnh. Số lượng lớn những cống hiến đã được tôn vinh của các khoa học gia người Hungary cũng nói lên rằng trí tuệ xuất sắc được phát triển trong môi trường thuận lợi và phù hợp có thể đạt tới những thành tựu rực rỡ.
TS Vũ Hoài Chương, người hiệu đính cuốn sách, người đã có hơn 23 năm sống, làm việc và thẩm thấu nền văn hoá Hung, còn bổ sung thêm những thông tin về nguồn gốc châu Á xa xưa và quá trình di dân lâu dài đến vùng đất Hungary ngày nay như một lý giải khác.
Trông người lại nghĩ đến ta. Việt Nam cũng nằm giữa những ngả đường văn hoá, đã có một quá trình dung nạp, tiếp biến văn hoá lâu dài để có bức tranh văn hoá Việt đa màu sắc và mảng khối như hôm nay; dân tộc Việt Nam thường xuyên phải vật lộn với thiên tai, phải nhiều lần đổ máu hy sinh để chống xâm lược bảo vệ độc lập, tự do của mình; con người Việt Nam không thiếu tố chất thông minh, lại sẵn bản tính cần cù và hiếu học... Vậy bao giờ giáo dục Việt Nam “cất cánh”? Bao giờ Việt Nam có người đoạt giải Nobel?
Ngữ Thiên
(*) Tác giả: Bödök Zsigmond; dịch giả: TS Giáp Văn Chung; hiệu đính: TS Vũ Hoài Chương, NXB Tri Thức, Hà Nội, 12.2009 SGTT
|